
Ấn
tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt
bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn
những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua
một đoạn đời ấu thơ tại Hà Nội.
Ðiều
đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ
rất Tây so với Hà Nội. Cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài
Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.
Cha
tôi làm thông ngôn trong quân đội Liên Hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho
các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên Pháp ngữ đặt cho
nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. Căn nhà đầu tiên của gia đình
chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. Ðường Bà Hạt là đường
phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze –
tức đường Nguyễn Tri Phương.

Phố
phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc.
Và rất nhiều cổ thụ. Ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái
ngựa – tên khoa học là Meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành
lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt Trường Ðua Phú Thọ, quận
11. Hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh
viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. Rừng cao su
bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ Trường Ðua Phú
Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Tản
bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm
các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. Và Passage Eden, rất
nên gọi là “Hành Lang Ði Bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. Passage
Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng
hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán Givral liền bên… và
để ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông quý bà Sài Gòn, cũng ở trong
đó.
Trai
thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux
couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. Gái lịch – quý bà thì áo dài
Lemur-Cát Tường không thua phụ nữ Hà Nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”;
tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn
sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Rồi
với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An,
Trường-Trung-Học-Di-Chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như
vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu
niệm Sài Gòn.
Bất
cứ buổi sáng Chủ Nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất
các “bác phó nhòm,” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. Mái
hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với
hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu
tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. Hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm
ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm Tây ở một nhà
hàng Pháp trên phố Bonard…

Ðường
Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn Ðộ, với những
ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. Những
người Ấn Ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa
hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. Từ
lâu trước đó, cộng đồng người Ấn Ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã
có một đợt người Ấn Ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

Người
Sài Gòn-Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi
người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh Hai, anh Ba… Thân
thương biết mấy! Chuyện trò với người Sài Gòn-Nam Bộ, câu chuyện của họ
giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với
mình phải chịu đựng sự vòng-vo-tam-quốc, sự rào trước đón sau, như rất
nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954
thường như vậy.
No comments:
Post a Comment